Chơi chữ là cách sử dụng từ ngữ độc đáo với ý nghĩa có thể ẩn dụ, nhân hóa, đã kích hay châm biếm sự việc, sự vật. Đây là biện pháp thường xuất hiện trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ hoặc thơ ca. Trong bài viết này mình chia sẻ những cách chơi chữ thường được dùng trong thơ ca Việt Nam và cách sử dụng biện pháp tu từ này hợp lý nhất.

Khái niệm chơi chữ trong ngữ văn 

Chơi chữ là cách biến hóa ngôn từ kết hợp tính nghệ thuật của người Việt. Nó được sử dụng phổ biến trong thơ ca chính thống và ca dao, tục ngữ gắn liền trong cuộc sống đời thường. Biện pháp tu từ này có tác dụng làm câu thơ, lời văn thêm phần dí dỏm, trào phúng và có tính giáo dục cao.

Cách nhận biết các kiểu chơi chữ phổ biến

Có nhiều cách chơi chữ khác nhau như sử dụng từ đồng âm nhưng khác nghĩa, nói lái, dùng từ trái nghĩa… Mình sẽ liệt kê một vài cách chơi chữ phổ biến nhất.

1 Chơi chữ bằng biện pháp nói lái

Nói lái hay còn gọi là cách nói ngược câu chữ, nó có tác dụng châm biếm, mỉa mai hoặc bông đùa… Loại này không phải người đọc nào cũng hiểu được hàm ý của tác giả nếu như không suy luận hay phân tích từng từ một. Chơi chữ bằng cách nói lái quen thuộc và dễ gặp nhất khi đọc văn thơ, tục ngữ.

Trong câu đối, ca dao

Mục đích của chơi chữ trong lời nói hàng ngày là tạo ra những tiếng cười, thêm màu sắc cho cuộc sống.

Ví dụ 

“Một con cá đối nằm trên cối đá, Hai con cá đối nằm trên cối đá”.

“Thầy giáo, tháo giày đi dép lốp”.

“Con mỏ kiến đậu trên miếng cỏ. Chim vàng lông đậu cạnh vồng lang”.

Trong thơ ca

Dùng để ẩn dụ hay châm biếm hiện thực khách quan, con người…

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo. 

Vị gì một chút tẻo tèo teo.

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc.

 Trái gió thành ra phải lộn lèo!

(Trích bài thơ Sư bị làng đuổi – Hồ Xuân Hương).

2 Chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm

Biện pháp này sử dụng các từ giống nhau về cách phát âm hoặc đồng âm, thường được gọi là từ đồng âm nhưng có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Cách chơi chữ này mang nhiều hàm ý và nghĩa thường châm biếm, đả kích là chính.

Ví dụ:

Vũ cậy mạnh vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa vũ ướt cả lông 

Thị phải chầu thị đứng thị xem, thị cũng thèm thị không có ấy.

Hoặc

Bà già đi chợ cầu Đông 

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? 

Thầy bói xem quẻ nói rằng.

Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn.

3 Chơi chữ bằng cách dùng từ gần nghĩa, sát nghĩa 

Là các từ khác nhau nhưng có nghĩa tương tự nhau

Ví dụ 

Bà Đồ Nứa đi võng đòn tre, đến khóm trúc thở dài hi hóp 

Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, dò đến hàng nem chả muốn ăn.

4 Chơi chữ bằng cách lặp phụ âm đầu

Loại này chỉ giống nhau phụ âm đầu, giúp tạo điểm nhấn cho toàn bộ bài thơ.

Ví dụ

Mênh mông muôn mẫu một màu mưa 

Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ 

Mộng mị mỏi mòn mai một một 

Mỹ miều may mắn mấy mà mơ

5 Chơi chữ bằng chiết tự

Một kiểu từ Hán Việt được sử dụng trong thơ ca thời xưa, loại nay tương đối khó nhận biết nếu bạn không có nhiều kiến thức về từ điển Hán Nôm.

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc.

Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung.

Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại.

Lung khai trúc sản, xuất chân long.

Kết luận: Trên đây là những kiến thức cơ bản nhất về cách chơi chữ trong ngôn ngữ Việt. Có nhiều cách sử dụng loại biện pháp tu từ này, người đọc phải suy ngẫm mới hiểu cách chơi chữ trong thơ văn.