Khác với các câu đưa ra yêu cầu, quyết định là câu cầu khiến, câu cảm thán, câu nghi vấn là dạng câu hỏi về một sự vật, hiện tượng, sự việc diễn ra trong đời sống. Trong bài viết này mình sẽ hướng dẫn cách sử dụng loại câu hỏi này trong chương trình ngữ văn lớp 8 nha.

Định nghĩa câu nghi vấn 

Câu nghi vấn là loại câu hỏi với mục đích là hỏi những điều mình không biết, đang thắc mắc hoặc nghi vấn để tìm ra câu trả lời. Cùng với câu trần thuật thì câu nghi vấn thường xuyên được sử dụng trong giao tiếp và văn học, tiểu thuyết.

Thường sử dụng các từ như sao vậy, như thế nào, ở đâu, ra sao, bao nhiêu, bấy nhiêu, rồi, hả, sao… Cuối câu nghi vấn thường sử dụng dấu chấm hỏi.

Ví dụ: 

  • Nhà em có bao nhiêu người? 
  • Hôm nay Bạn Trâm Anh vắng học hả Nam?
  • Con có biết cuốn sách văn học bỏ ở đâu không?

Những đặc điểm chính trong câu nghi vấn

Thường thì câu nghi vấn có các đặc điểm gồm:

  • Nó dùng để đặt câu hỏi hoặc câu cảm thán giúp giải quyết một vấn đề nhất định. 
  • Cuối câu là dấu chấm hỏi.
  • Chỉ xuất hiện trong giao tiếp, tiểu thuyết văn chương, không thường dùng trong văn bản, hợp đồng.
  • Cuối câu nghi vấn là các từ, cụm từ gồm: rồi, sao, ra sao, sao vậy….

Những chức năng chính trong câu nghi vấn

Là loại câu mang nhiều tính năng và ý nghĩa nhất, về tổng thể có những nghĩa gồm:

Chức năng hỏi hay thắc mắc một vấn đề

Là chức năng quan trọng và dễ nhận biết nhất khi gặp hay sử dụng. Kiến thức là vô hạn nên chúng ta ai cũng có những vấn đề không thể tự mình giải đáp và tự tìm hiểu được.

Ví dụ: 

Câu ca dao Việt Nam có đoạn:

Em được thì cho anh xin 

Hay là em để làm tin trong nhà ?

Chức năng khẳng định sự việc, hành động

Nó dùng để khẳng định sự việc, hành động đó không phải do mình làm hay chắc chắn sẽ thực hiện trong thời gian sắp tới.

Ví dụ: Trích đoạn trong tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất tố có đoạn:

“Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nữa, nên mới lôi thôi như thế. Chứ cháu có dám bỏ bê tiền sưu của nhà nước đâu? Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất”

Câu nghi vấn “  Chứ cháu có dám bỏ bê tiền sưu của nhà nước đâu?” Ý nói trong thời gian sắp tới Chị Dậu sẽ trả tiền sưu cho nhà nước.

Câu nghi vấn còn có chức năng là câu cầu khiến

Đôi khi ý nghĩa là câu cầu khiến nhưng về hình thức là câu nghi vấn. Nó giúp người viết mô ta được vấn đề đó quan trọng, nhưng đang thắc mắc.

Ví dụ: Đoạn văn trong tiểu thuyết Tắt Đèn có câu “Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu! Mau!”.

“Còn sống đấy à?” Vừa có nghĩa hỏi người đàn ông đó vẫn còn sống không, vừa là câu cầu khiến.

Chức năng phủ định

Chức năng phủ định hay nghi vấn rất giống nhau và dễ gây nhầm lẫn. Phủ định ở đây là phản bác hay loại bỏ ý kiến mà người khác đưa ra và nghi ngờ sự thật về câu nói đó.

Ví dụ: “ Nam hôm nay tại sao con không đến lớp học thêm, tại sao mẹ lại hỏi con như vậy?”

Khi mẹ hỏi lý do Nam không đến trường thì Nam đã phủ định ý kiến của mẹ và hỏi ngược lại.

Chức năng biểu lộ cảm xúc

Thường sử dụng những cảm xúc như vui, buồn, đau khổ, hờn ghen, nhớ thương… Và được dùng nhiều trong văn xuôi hay truyện ngắn.

Ví dụ: Trích đoạn tác phẩm Trong Lòng Mẹ của Nguyên Hồng có đoạn:

“ Mẹ ơi! Con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế? Mãi không về! Người ta đánh con vì con dám cướp lại đồ chơi của con mà con người ta giằng lấy. Người ta lại còn chửi con, chửi cả mẹ nữa! Mẹ xa con, mẹ có biết không?”

Câu” Mẹ ơi! Con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế?” có nghĩa vừa thắc mắc tại sao mẹ đi lâu như vậy và còn bộc lộ cảm xúc nhớ thương mẹ.

Kết luận: Câu nghi vấn là dạng câu quan trọng giúp lời văn, câu chuyện hấp dẫn và thu hút sự tò mò của người đọc.